Thiền viện Trúc Lâm Thanh Nguyên nằm ở ấp Cây Khô, xã Tam Lập, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Đây là ngôi thiền viện đầu tiên của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử tại tỉnh Bình Dương.
Thiền viện Trúc Lâm Thanh Nguyên có diện tích hơn 10 hecta, được khánh thành vào năm 2013. Thiền viện là nơi sinh hoạt tu tập theo thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.
Đến với thiền viện Trúc Lâm Thanh Nguyên chiêm bái, du khách sẽ cảm nhận được vẻ an yên và thanh nhã trong không gian thiền định nơi ánh hào quang Phật giáo luôn soi chiếu…
Đường vào thiền viện Trúc Lâm Thanh Nguyên khang trang, rợp bóng mát của cánh rừng cao su và hoa lá cỏ
Cổng chính thiền viện nhìn từ ngoài vào
Cánh rừng cao su kề bên thiền viện
Hoa như lá, lá như hoa
Trái sa la
Cổng chính thiền viện từ trong nhìn ra
Thiền viện mang thiết kế đặc trưng của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử
Bên trong chánh điện
Hành lang chánh điện
Chương trình sinh hoạt tu học được diễn ra vào các ngày chủ nhật tuần thứ ba trong tháng (dương lịch)
Tượng Phật Quan Âm lộ thiên
Các công trình khác
Khuôn viên thiền viện rất rộng với rừng cao su và tiểu cảnh cây kiểng, hoa lá…
Thiền phái Trúc Lâm (禪派竹林) là một dòng thiền Việt Nam hình thành từ thời nhà Trần, do Vua Trần Nhân Tông sáng lập. Trúc Lâm vốn là hiệu của Trần Nhân Tông từ khi xuất gia ở động Vũ Lâm (Ninh Bình), đồng thời cũng là hiệu của Thiền sư Đạo Viên, tiền bối của Trần Nhân Tông, Tổ thứ hai của dòng thiền này.
Thiền phái Trúc Lâm có ba Thiền sư kiệt xuất là Nhân Tông (Trúc Lâm Đầu Đà), Pháp Loa và Huyền Quang (gọi chung là Trúc Lâm Tam tổ). Thiền phái này được xem là tiếp nối nhưng là sự hợp nhất của ba dòng thiền Việt Nam của thế kỷ XII – đó là dòng Thảo Đường, Vô Ngôn Thông và Tì-ni-đa-lưu-chi. Với việc lập ra phái Trúc Lâm, Trần Nhân Tông đã thống nhất các Thiền phái tồn tại trước đó và toàn bộ giáo hội Phật giáo đời Trần về một mối.
Sau khi nhường ngôi cho con trai là Trần Anh Tông vào năm 1293, vua Trần Nhân Tông xuất gia tu hành tại chùa Khai Phúc thuộc hành cung Vũ Lâm (Ninh Bình), đến năm 1299 vua rời đến Yên Tử (Quảng Ninh) tiếp tục tu hành và thành lập thiền phái Trúc Lâm (còn gọi là Trúc Lâm Yên Tử, hay Trúc Lâm Tam tổ). Thiền phái Trúc Lâm do một vị vua nhà Trần sáng lập, được xem là dạng Phật giáo chính thức của Đại Việt thời đó, nên có liên quan mật thiết đến triều đại nhà Trần, phải chịu hoàn cảnh mai một sau khi triều đại này suy tàn. Vì vậy, sau ba vị Tổ là Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang, hệ thống truyền thừa của phái này không còn rõ ràng, nhưng có lẽ không bị gián đoạn bởi vì đến thời kì Trịnh-Nguyễn phân tranh (1600-1700), người ta lại thấy xuất hiện những vị thiền sư của phái Trúc Lâm như: Viên Cảnh Lục Hồ, Viên Khoan Đại Thâm và nổi bật nhất là thiền sư Minh Châu Hương Hải.
Sau một thời gian ẩn dật, dòng thiền này sản sinh ra một vị Thiền sư xuất sắc là Hương Hải, người đã phục hưng tông phong Trúc Lâm. Trong thế kỉ thứ XVII – XVIII, thiền phái này được hoà nhập vào Lâm Tế tông và vị Thiền sư xuất sắc cuối cùng là Chân Nguyên Huệ Đăng.
Trong những năm gần đây xuất hiện một dạng thiết chế tôn giáo mới, gắn với thiền phái Trúc Lâm là các thiền viện Trúc Lâm do hoà thượng Thích Thanh Từ khởi xướng. Đây cũng là một hình thức tôn vinh, thăng hoa của thiền phái Trúc Lâm trong đời sống xã hội hiện đại.
Một số thiền viện Trúc Lâm nổi tiếng ở Việt Nam: thiền viện Trúc Lâm Yên Tử (tỉnh Quảng Ninh), thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt (tỉnh Lâm Đồng), thiền viện Thường Chiếu (Đồng Nai), thiền viện Trúc Lâm Chánh Giác (Tiền Giang), thiền viện Trúc Lâm Phương Nam (Tp. Cần Thơ), thiền viện Trúc Lâm Hộ Quốc (đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang),…
*** Bài viết có sử dụng tư liệu được tổng hợp và biên tập lại từ nhiều nguồn trên Internet, mang giá trị tham khảo.